13 Phân tích bài thơ Tỏ lòng của nhà thơ Phạm Ngũ Lão mới nhất

Đề bài: Phân tích bài thơ Tỏ lòng của nhà thơ Phạm Ngũ Lão

Bài làm

Phạm Ngũ Lão (1225–1320) là một danh tướng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là người đã góp công rất lớn trong cả hai cuộc kháng chiến chống quân Mong- Nguyên lần thứ 2 vào năm 1285 và lần thứ 3 vào năm 1288. Nguời đời chỉ xếp ông sau Hưng Đạo đại vương- Trần Quốc Tuấn. Không chỉ có tài về quân sự, mà ông còn để lại nhiều bài thơ về  làm trai, lòng yêu đất nước. Nhưng hiện nay tác phẩm của ông còn lại hai bài là “Thuận hoài” (Tỏ lòng) và “Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương” (Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương).

Bài thơ Tỏ lòng nói về niềm tự hào về chí nam nhi cùng khát vọng lập chiến công của người anh hùng khi đất nước có giặc ngoại xâm, đây cũng là bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”

Mở đầu bài thơ là hình ảnh người anh hùng tay cầm ngọn giáo được tác giả miêu tả đi suốt mấy mùa thu: “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu” dịch nghĩa là cắt ngang ngọn giáo đi khắp non sông đã mấy mùa thu. Đây là một câu thơ có hình ảnh kỳ vĩ, độc đáo mang tầm vóc của vũ trụ, mang tầm vóc của giang sơn và chiề dài xuyên suốt cả lịch sử khi nói “mấy mùa thu”. Tác giả đã vẽ nên hình tượng của một người chiến sĩ oai phong, hào hùng mang khí thế hừng hực của thời đại là hào khí Đông A, của lòng yêu nước khi diễn tả hành động cầm ngọn giáo đi bảo vệ non sông của người anh hùng trải dài từ mùa thu của năm này sang mùa thu của năm khác. Có nhiều bản dịch khác nhau nhưng ở bản dịch thơ của Bùi Văn Nguyên  dịch thành: “Múa giáo non sông trải mấy thu”, “múa giáo” dịch chưa được chuẩn xác vì cầm giáo thể hiện sự nghiêm nghị, tư thế lẫm liệt trượng phu của người anh hùng, là trong trạng thái tĩnh, còn “múa giáo” là trạng thái động như đang cầm giáo khuấy động không gian của người anh hùng làm mất đi phần nào vẻ oai phong, lừng lững kia.

Xem thêm:  Cảm nhận của em về đoạn trích Trao duyên trong tác phẩm Truyện Kiều

Câu thơ tiếp: “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” ý muốn nói ba quân có sức mạnh hùng dũng như hổ báo nuốt trôi trâu, ngoài ra câu thơ còn có ý hiểu khác là khí thế của “ba quân” có thể nuốt trôi cả sao Ngưu, sao Đẩu, hiểu theo cách thứ hai ta thấy sức mạnh của “ba quân” còn có thể lấn áp được cả thiên nhiên vũ trụ. Dù hiểu theo cách nào thì câu thơ của tác giả cũng đều hay và mạng hàm ý nhất định đó là hào khí Đông A- hào khí sực sôi thời đại nhà Trần là lòng yêu nước, tinh than dám hi sinh vì độc lập của tổ quốc của người anh hùng khi xông pha ra trận mạc. “Ba quân” ở đây là bao gồm quân bộ đánh ráp lá cà, quân thủy đánh bằng tàu bè và quân trên thành, cả ba loại quân kết hợp với nhau tạo nên một đội quân mạnh mẽ không gì át được, đánh đến đâu là thắng đến đó khiến cho quân địch phải khiếp sợ.

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”

Dịch nghĩa:

“Thân nam nhi mà chưa trả xong nợ công danh

Thì luống thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ Hầu”

Phân tích bài thơ Tỏ lòng

Vũ Hầu là một nhân vật trong lịch sử Trung Hoa, ông là Gia Cát Lượng người đã giúp cho Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán, là một người có nhiều công lao được phong tước Vũ Hầu Vương gọi tắt là Vũ Hầu.

Xem thêm:  Thuyết minh về một loại hình ca nhạc hoặc sân khấu mà anh chị yêu thích

“Thân nam nhi” là thân phận của những người đàn ông trong xã hội cũ ngày xưa rất được xem trọng, là trụ cột của cả gia đình, dòng tộc thậm chí là cả quốc gia dân tộc, là người sẽ đưa ra quyết định đại diện cho gia đình, dòng tộc, quốc gia đó. Tiếp đến tác giả nhắc đến “nợ công danh” chính là món nợ vô hình mà người con trai nào khi sinh ra ở xã hội ấy đều phải trả trước lúc ra đi, nếu không trả được ra đi sẽ không nhắm mắt, xuôi tay và lòng đầy áy láy, day dứt. Cũng như: “Phận làm trai chí ở bốn phương”, món nợ công danh ở đây chính là lòng khao khát được lập chiến công cho đất nước. Cả câu thơ ý muốn nói phận là nam nhi trong xã hội này dù đang sống trong bất cứ hoàn cảnh nào từ khi sinh ra đã mang cho mình trọng trách là phải lập công danh, làm việc có ích cống hiến sức lực cho non sông. Câu thơ bày tỏ rõ lòng yêu nước của chính tác giả nhưng mượn lời của đại bộ “nam nhi” trong xã hội để nói nên nỗi lòng ấy, niềm khao khát được lập công danh.

Câu thơ cuối là sự thẹn thùng của những nam nhi không làm tròn được trách nhiệm của mình thì sẽ bị người đời mỉa mai và bản cũng thấy e thẹn khi nghe câu chuyện về Vũ Hầu: ”Tu thính nhân gian thuyết vũ hầu”.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trong thơ ca Trung đại nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung thì hình tượng về người anh hùng luôn được các tác giả tìm đến với nhiều cảm hứng, giọng điểu, cách thể hiện khác nhau nhưng hầu hết đều làm tôn vinh, tô điểm cho hình ảnh người anh hùng thêm oai phong, lẫm liệt. Giống như trong “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Quốc Tuấn hình tượng người anh hùng như một bức tượng đài bất tử, đến với thơ ca hiện đại ta bắt gặp bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến trong áng thơ của Quang Dũng,… Tất cả như được nối tiếp nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác lòng yêu nước, tinh thần sẵn sang hi sinh khi Tổ quốc bị xâm lăng nó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi con người. Bác Hồ cũng đã nói:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của tác giả Phạm Ngũ Lão là hình ảnh của người anh hùng oai phong lẫm liệt luôn tràn đầy khí thế, hùng dũng trong chiến đấu khi đất nước có giặc ngoại xâm, ước muốn được lập chiến công qua đó thể hiện tinh thần yêu nước của chính tác giả.

Hằng